Được tạo bởi Blogger.
RSS

Bản chất của môn Lo-gich cận kim và sức mạnh của Lo-gich

     Như vậy, cho tới lúc này chúng ta thấy rằng tầm quan trọng của phát biểu phổ biến trong khoa học không phải là lý do để cho rằng có một sự bất tương ứng giữa lô-gich của phán đoán khoa học vóri lô-gich của một sự luận bàn khoa học về ứng xử. Quả thực, bởi vì chúng ta đã thấy rằng phát biểu phổ biến ra đời, phát triển và được trắc nghiệm thông qua sự kiểm soát những trường hợp đặc thù, vì thế sự giả định sẽ phải là chúng tương ứng với nhau chứ không phải là bất tương ứng với nhau. Liệu chúng ta cóthế mở rộng hơn nữa sự tương ứng này? Sự tương ứng này có hoànản áp dụng được cho những đặc điểm khác của phán đoán đạo đức, tức ự quy chiểu của nó tới một hành động?

Bản chất của môn Lo-gich cận kim và sức mạnh của Lo-gich

     Giống như môn lô-gich học cận kim đã chộp lấy tính chất giả thuyết và phổ biến của những phát biểu khoa học, trong khi nó đấy lùi mối quan hệ giữa phát biểu khoa học với phán đoán cá nhân vào trong hậu cảnh song thực ra sự đẩy lùi này chỉ là bởi vì mối liên quan nói trên bao giờ cũng được coi là đương nhiên đúng, cũng vậy, môn lô-gich cận kim đi nhấn mạnh khía cạnh của nội dung trong phán đoán trong khi hi sinh hànlđộng phán đoán. Tuy nhiên, bây giờ tôi sẽ thử chứng minh rằng sự nhấn mạnh này còn ra đời chính là bởi vì sự quy chiếu tới hành động đã đượccoi là điều tuyệt đối đương nhiên đúng đến nỗi có thế bỏ qua hành động tức là, không phát biểu về nó một cách rõ rằng. Tôi sẽ thử chứng minh rằng mọi phán đoán đều phải được coi là một hành động; rằng, quả thực, phân tích cho cùng thì tính chất đặc thù của phán đoán đúng nghĩa, khi nó vừa được phát biểu ra, có nghĩa là phán đoán ấy là một hành động duy nhất và :hông có cái gì thay thế được nó.

     Điểm căn bản của chúng ta là sự kiếm soát nội dung hoặc ý nghĩa được khẳng định trong mọi phán đoán cụ thế. Sự kiểm soát như vậy có thể có được bằng cách nào? Cho tới đây chúng ta phát biểu như thế nội dung của một phán đoán có thể được tạo ra đơn giản bằng cách quy chiếu với nội dung của một phán đoán khác — đặc biệt, chúng ta phát biểu như thể nội dung của một phán đoán cá lẻ, tức một phán đoán về sự đồng nhất , có thể có được bằng cách quy chiếu tới nội dung của một phát biểu phò biến hoặc một phát biểu có tính giả thuyết. Thực ra, không làm gì có sự kiểm soát một nội dung bằng cách đơn thuần quy chiếu tới một nội dung khác hiểu theo nghĩa thông thường của từ này. Thừa nhận sự không có khả năng này tức là thừa nhận rằng việc kiểm soát sự hình thành phán đoán bao giờ cũng diễn ra thông qua một hành động lựa chọn và làm cho từng nội dung của phán đoán cá lẻ và phát biểu phổ biển có một moi quan hệ với nhau. Không có con đường rộng mở đề đi từ bất kỳ một công thức phổ biến nào đến một phán đoán cá nhân. Con đường này đi qua những thói quen và những thái độ tinh thần của người phán đoán. Cái phổ biến chỉ có thêm sứcmạnh lô-gich cũng như sự tồn tại hợp lô-gich trong những hành động được lô-gich này tạo ra và giải thích như là một công cụ và sau đó sử dụng vào mục đích mà vì thế nó đã được tạo ra.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Khả năng tập hợp và lựa chọn những nguyên tắc

     Vì thế tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng [sự hoạt động] tự bộc lột tại mọi thời điểm quan trọng trong quá trình hình thành phán đoán:

Khả năng tập hợp và lựa chọn những nguyên tắc

(a) nó tự bộc lộ trong sự phát sinh của [cái có tính chất chung] hoặc [cái phổ biến] được sử dựng trong phán đoán;

(b) nó tự bộc lộ tại thời điếm của sự lựa chọn nội dung cụ thế đang được phán đoán; (c) nó tự bộc lộ dưới hình thức trong đó tính hợp thức cũa giả thuyết được trắc nghiệm và kiểm chứng, và ý nghĩa của nội dung cụ thể nói trên được xác định.

     Cho tới đây chúng ta đã thừa nhận khả năng tập hợp và chọn lựa những nguvên tắc phổ biến nào đó để sử dụng vào sự kiểm soát [sự đồng nhất hóa] được tìm thấy trong một trường hợp. Tức là chúng ta không thể điều chỉnh các phán đoán kiểu như “Đây là bệnh thương hàn’’ hoặc “Kia là sao chổi Bela’’ nếu như chúng ta không có những khái niệm chung nào đó, những khái niệm này được định nghĩa như là mối liên kết của những điều kiện đặc thù, và nếu như chúng ta không biết được khi nào và bằng cách nào lựa chọn được cái khái niệm cụ thể duy nhất đó từ cái kho khái niệm để sử dụng theo ý muốn. Toàn bộ lĩnh vực khoa học, xét như là một số lượng lớn những công thức có mối quan hệ nhất quán với nhau, chỉ là một hệ thống của những thuộc tư khả hữu [possible predicat] — tức là một hệ thống của những quan điểm hoặc phương pháp có thế được dùng vào việc mô tả kinh nghiêm đặc thù mà bản chất và ý nghĩa của nó chúng ta không biết. Khoa học cung cấp cho chúng ta một hệ thống những công cụ để chúng ta thực hiện sự chọn lựa. Dĩ nhiên sự lựa chọn phụ thuộc vào sự đòi hỏi của những sự kiện đặc thù cần được phân biệt và đồng nhất hóa trong trường hợp cụ thể – hệt như việc người thợ mộc, trên cơ sở của những gì anh ta sắp làm, quyết định xem anh ta sẽ lấy ra một cái búa, một cái cưa hay một cái bào trong cái hòm đựng đồ nghề của mình. Nếu chúng ta có thể giả sử rằng sự tồn tại của những ứng cử viên có thế thích hợp cho chức vụ, cộng với việc có thế kết hợp và hoán vị họ giống như phép tính toán học, tức là một sự tuyển chọn một người trong số họ cho chức vụ, thì chúng ta cũng có thế giả định rằng một phán đoán cụ thế có thể được suy ra từ ngay cả một hệ thống đầy đủ một cách lý tưởng của những nguyên tắc phố biến. Quá trình lô-gich này bao gồm, xét trên một bộ phận hữu cơ của bản thân quá trình này, sự lựa chọn và tham khảo cái đặc thù nào nằm trong hệ thống nói trên phù hợp với trường hợpcụ thế. Sự lựa chọn và điều chỉnh cái đặc thù này là một phần không tách rời của lô-gich của tình huống. Và với tính chất như vậy, sự lựa chọn và điều chỉnh rõ rằng nằm trong tính chất của một hành động.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nguồn gốc của sự duy nghiệm, trắc nghiệm bằng thực nghiệm

     Nguồn gốc duy nghiệm, sự trắc nghiệm bằng thực nghiệm, và sự vận dụng phát biểu khoa học vào thực tiễn, tự chúng đã đủ để chỉ rõ sự không thế tiếp tục bám lấy bất kỳ sự phân chia cố định nào về lô-gichcoi phán đoán phổ biến là thuộc về khoa học và phán đoán đặc thù là thuộc về thực tiễn. Sự bất khả này ám chỉ rằng cái được chúng ta gọi tên là “khoa học” chỉ là sự tạo ra và sắp xếp những công cụ để giải quyết những trường hợp đặc thù của kinh nghiệm -những trường hợp mà, dù chúng mang tính chất đặc thù, song chúng cũng mang tính chất đơn nhất không thế thay thế giống như những tình huống của đời sống đạo đức.

Nguồn gốc của sự duy nghiệm, trắc nghiệm bằng thực nghiệm

     Chúng ta thậm chí có thế nói rằng ngay chính sự kiện dẫn dắt chúng ta đi tới một quan điểm hời hợt tin vào sự phân lìa về lô-gich giữa phán đoán phổ biến với phán đoán đặc thù, tức là sự tồn tại của một hệ thống lớn khép kín những định để phổ biến, đã là bằng chứng cho thấy trong những kinh nghiệm cá nhân nào đó chúng ta đã tìm ra những phương pháp điều chỉnh sự giải quyết chúng bằng tư duy, trong khi đó trên phương diện khác của kinh nghiệm thì công việc này vẫn còn bỏ ngỏ, tức vẫn là vấn đề của khoa học đạo đức hiện nay.

Bài viết này không xem xét phương pháp được dùng để đạt được mục đích kiểm soát mong muốn nói trên. Chỉ cần lưu ý rằng phán đoán mang tính giả thuyết là một công cụ vô cùng hiệu nghiệm.

     Nói cách khác, sự đồng nhất hóa chỉ có thể đảm bảo khi nó có thể được tạo ra bằng cách (1) phá vỡ cái đặc tính chưa được phân tích của phán đoán giản đơn thành những nét đặc điểm xác định, (2) phá vỡ thuộc từ [predicat] thành một sự kết hợp tương tự của những yếu tố, và (3) xác lập mối liên kết giống hệt nhau giữa một số yếu tố nào đó của chủ từ với một số yếu tố nào đó của vị từ. Mọi phán đoán trong cuộc sông bình thường, và quả thực mọi phán đoán trong các môn khoa học như địa chất, địa lý, lịch sử, động vật học và thực vật học (tất cả các môn khoa học có liên quan đến sự trần thuật lịch sử hoặc sự mô tả những sự động-tồn tại trong không gian) rút cục đều quay trở lại những vấn đề của sự đồng nhất hóa. Ngay cả những phán đoán trong vật lý và hóa học, dưới hình thức cơ bản và cụ thể của chúng, chúng cũng đều quan tâm tới những trường hợp đặc thù. Trong tất cả các môn khoa học, chỉ duy có toán học là quan tâm tới những định đề phổ biến thuần tuy – vì lý do này mà toán học có ý nghĩa như một công cụ không thế thiếu cho mọi phán đoán của lĩnh vực công nghệ và các môn khoa học khác. Đều cũng đúng trong tất cả các nghề nghiệp, dù là nghề nghiệp có tính thương mại, chuyên môn hay nghệ thuật, ấy là những phán đoán tự chúng quy giản thành những vấn đề của sự đồng nhất hóa chính xác. Quan sát, chẩn đoán, diễn giải và kỹ năng chuyên môn thảy đều tự biểu hiện trong sự giải quyết những trường hợp đặc thù hiểu theo nghĩa thông thường của từ này.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: muc dich giao duc, khoa học giáo dục

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những tính chất phổ biến của những phát biểu khoa học

     Niềm kiêu hãnh và tự hào của nền khoa học cận kim là tính chất duy nghiệm và thực nghiệm rõ rệt của nó. Thuật ngữ “duy nghiệm” ám chỉ nguồn gốc và sự phát triển của các phát biểu khoa học là từ những kinh nghiệm cụ thế; thuật ngữ “thực nghiệm” ám chi sự trắc nghiệm và kiểm tra cái được gọi là những quy luật và những điều phổ biến bằng cách quy chiếu tới sự vận dụng của chúng trong những kinh nghiệm sau này. Nếu như quan niệm này về khoa học là đúng, nó cho thấy, mà không cần có thêm luận cứ, rằng những phát biểu phổ biến chiếm giữ một vị trí trung gian thuần túy. Chúng không phải là đầu cũng chẳng phải cuối.

Những tính chất phổ biến của những phát biểu khoa học

     Chúng là cầu nối để chúng ta đi từ một kinh nghiệm cụ thế này tới một kinh nghiệm cụ thể khác; chúng là những kinh nghiệm riêng biệt được sắp xếp thành hình thức sao cho có ích cho sự điều chinh những kinh nghiệm khác. Nếu khác đi những quy luật khoa học sẽ chỉ là lý thuyết trừu tượng được trác nghiệm trên cơ sở của tính chất nhất quán giữa chúng với nhau; và cái được cho là đặc điểm phân biệt khoa học với sự tư biện của thời Trung đại sẽ lập tức không còn rõ ràng nữa.

     Mặt khác, nếu như tính chất phổ biến của những phát biểu của khoa học tự nhiên và sinh vật học là mang tính chất tối hậu, thế thì những phát biểu như vậy sẽ hoàn toàn vô dụng xét từ một quan điểm thực hành; chúng sẽ hoàn toàn không thể được đem áp dụng trong thực tiễn bởi vì chúng bị cô lập khỏi tính liên tục về lý luận với những trường hợp áp dụng cụ thể mà người ta đang tìm kiếm sự áp dụng lý luận đó cho chúng. Dù có vận dụng những điều trừu tượng bằng suy luận thuần túy thế nào di nữa thì cũng không thể đưa một kết luận rút ra từ đó đi tới một sự thật cụ thế gần hơn chút nào so với những giả thuyết đầu tiên dùng cho sự suy luận ấy. Sự suy luận đưa thêm vào những ý niệm mới mẻ theo trình tự hợp quy tắc và bằng cách ấy làm phức tạp nội dung nói chung. Nhưng cho răng bằng cách làm phức tạp nội dung của một phát biểu chúng ta sẽ đi tới gần hơn cái đặc thù trong kinh nghiệm tức ngay lập tức là sự ngụy biện của thuyết duy thực chứng minh sự hiện hữu của thượng đế. Dù sự tổng hợp của những phát biếu phổ biến của hóa hục, vật lý học và sinh học được thực hiện trên quy mô thế nào đi nữa (giả sử những phát biểu như vậy tự chúng đầy đủ về mặt lô-gich) thì nó cũng không thể giúp chúng ta xây được một cầu hoặc định vị nguyên nhân của một dịch sốt thương hàn. Nhưng nếu như những phát biểu như vậy và sự tổng hợp suy luận từ chúng phải được hiểu theo nghĩa của sự chế tạo và sử dụng những công cụ lý thuyết vào mục đích rõ ràng là hỗ trợ những kinh nghiệm cá nhân của chúng ta, khi ấy kết quả sẽ hoàn toàn khác.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: muc tieu giao duc, giao duc hoc

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Giới thiệu về phán đoán khoa học

     Phát biểu nói rằng phán đoán khoa học là mang tính chất giả thuyết bởi vì chúng mang tính phổ biến là điều đã trở thành hầu như quá quen thuộc trong lý luận lô-gich học gần đãy. Không nghi ngờ gì nữa, phát biểu này theo một nghĩa nào đó đã phát biểu một sự thật không tranh cãi. Mục tiêu của khoa học là quy luật.

Giới thiệu về phán đoán khoa học

     Một quy luật chỉ xứng đáng trong chừng mực nó chấp nhận hình thức nếu không phải của một phương trình thì ít nhất cũng của sự phát biểu có hệ thống về sự bất biến, về mối quan hệ hoặc về trật tự. Điều rõ rằng là mọi quy luật, dù nỏ được phát biểu như là sự phát biểu có hệ thống về trật tự hoặc như là một phương trình, đều trong tự bản thân nó và tự nó chuyển tải không phải một sự tồn tại đặc thù có thực mà chuyền tải một mối liên kết nào đỏ của nhữngđiều kiện. Cho tới đãy không có bất kỳ sự tranh cãi nào. Nhưng khi người ta biện luận rằng mối quan tâm trực tiếp và hiển nhiên nói trên của khoa học tới những phát biểu phổ biến đã nói lên đầy đủ ý nghĩa lô-gich của phương pháp khoa học, thì khi ấy người ta đã bỏ qua những giả thuyết và những mối quan hệ cơ bản nào đó; và câu hỏi liên quan đến lô-gich đang được bàn luận ở đãy đã được đặt ra không đúng. Câu hòi đích thực không phải là khoa học có nhắm tới hay không nhắm tới nhữngphát biểu dưới dạng phổ biến hoặc những công thức về mối liên hệ của những điều kiện, mà câu hòi đích thực là bằng cách nào mà khoa học lại đi đến chỗ làm điều như vậy, và khoa học làm gì với những phát biểu phổ biến sau khi nó đã có chúng.

     Nói cách khác, chúng ta trước hết phải đặt câu hỏi về ý nghĩa lô-gich của những phán đoán phổ biển. Do đó, trong khi không đặt câu hỏi về tầm quan trọng của những công thức phổ biến như là nội dung khách quan của khoa học, trong phần này tôi sẽ cố gắng chi ra rằng tầm quan trọng như vậy nằm ờ sự phát triển của “các môn khoa học” hoặc nằm ở rất nhiều những công thức phổ biến như là những công cụ và phương pháp kiểm soát những phán đoán cá lẻ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: mục tiêu giáo dục, giáo dục học

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS